Đầu tư startup –  cơ hội và thách thức

Hơn hai thập kỷ vừa qua là thời đại của rất nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, các công ty công nghệ tăng trưởng nhanh (hay còn gọi là Startup) bùng nổ trên toàn cầu.

I.  Bối cảnh ra đời đề án Vietnam Silicon Valley (VSV)

Hơn hai thập kỷ vừa qua là thời đại của rất nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, các công ty công nghệ tăng trưởng nhanh (hay còn gọi là Startup) bùng nổ trên toàn cầu. Thời báo Kinh tế – The Economist (Hoa Kỳ) đã so sánh sự bùng nổ của Startup với sự bùng nổ kỷ Cambrian Explosion trong lịch sử sinh học của trái đất. Các startup đã thâm nhập vào hầu hết các lĩnh vực của xã hội, vì thế các công ty thuộc kỷ nguyên công nghiệp đều giảm dần hoặc buộc phải chuyển đổi mô hình kinh doanh cho phù hợp với thời đại thông tin đang nổi lên.

Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy sự thay thế ngoạn mục của một số công ty thời đại thông tin trong việc nâng cấp hoặc thay thế sản phẩm đã có của thời đại công nghiệp như:

Kodak >< Instagram (Ảnh), Borders Books >< Amazon (Sách), Tower Records >< Apple Ipod, Spotify (Âm nhạc), Hệ thống khách sạn >< Airbnb (Du lịch), Taxis >< Uber/ Lyft (Vận chuyển – Giao thông vận tải), Hồ sơ nhân sự & Tuyển dụng >< LinkedIn (Nguồn nhân lực), Báo chí >< Truyền thông xã hội (Thông tin tiêu dùng), Cửa hàng bán lẻ >< Thương mại điện tử (Mua sắm).

Và Silicon Valley được thế giới coi là thánh địa công nghệ toàn cầu với số lượng Startup từ 14.000 đến 19.000 và từ 1,7 đến 2,2 triệu nhân viên công nghệ cao. Đây là ngôi nhà của những câu chuyện thành công như: Apple, Google, Facebook, và vô số những Startup thành công khác. Chỉ với 3 Startup đã tạo ra 1.500 tỷ đô  la giá trị vốn hoá thị trường và sử dụng hơn 165.000 lao động. Tác động của Thung lũng Silicon tới thế giới và chính nước Mỹ là không thể phủ nhận, trong Báo cáo Dự án đổi mới sáng tạo và Năng lực cạnh tranh chỉ ra rằng mỗi công nghệ cao trong Hệ sinh thái ở Thung lũng Silicon giúp tạo ra khoảng 5 triệu việc làm. Trong một số nghiên cứu khác về sự ảnh hưởng của những Startup này, Facebook đã công bố tạo ra 4 triệu việc làm trên toàn cầu, bao gồm nhân viên phát triển ứng dụng và nhân viên tiếp thị Facebook. Cứ như vậy, Thung lũng Silicon đã truyền cảm hứng khởi nghiệp cho toàn thế giới. Ở Châu Á, nhiều quốc gia đã xác định việc phát triển khoa học là yếu tố then chốt để xây dựng nền kinh tế vững mạnh. Singapore – Thung lũng Silicon của Châu Á hay Israel – Cường quốc khởi nghiệp là những minh chứng sống động cho sức mạnh khoa học công nghệ có ảnh hưởng to lớn như thế nào đối với nền kinh tế.

Tuy nhiên, để có được những thành công như vậy, phải kể đến sự góp mặt không thể thiếu của các Quỹ đầu tư mạo hiểm và các nhà đầu tư Thiên thần. Đây có thể nói là mạch máu xuyên suốt nuôi dưỡng quá trình phát triển của Startup. Theo thống kê của NVCA (National Venture Capital Associates), mỗi năm nước Mỹ thu hút từ 50 đến 60 tỷ đô la đầu tư mạo hiểm và Silicon Valley chiếm khoảng một nửa số này. Với nguồn vốn đầu tư này ước tính xấp xỉ 0,23% GDP nhưng tạo ra 21% GDP và 11% việc làm mỗi năm cho nước Mỹ. Một tỉ lệ ngoạn mục cho thấy tác động của nguồn vốn này đến sự phát triển của nền kinh tế Mỹ và là sự ao ước của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam.

Bên cạnh việc phát hiện cơ hội phát triển toàn cầu còn một nguyên nhân rất quan trọng nữa là vào thời điểm 2013, Việt Nam vẫn đang chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới….. Số lượng doanh nghiệp ngưng hoạt động, phá sản, giải thể có xu hướng tăng mạnh. Cụ thể theo Tổng cục thống kê trong năm 2013, Việt Nam có khoảng 60.737 doanh nghiệp ngừng hoạt động, tăng 11,9% so với 2012, trong đó có 9.818 doanh nghiệp chính thức giải thể hẳn. Điều này đồng thời tác động tiêu cực tới Hệ thống ngân hàng thương mại. Nợ xấu tăng nhanh, đặc biệt các khoản tín dụng về bất động sản dẫn tới nguồn vốn tín dụng bị tắc nghẽn. Đồng thời, các điều khoản cho vay được các ngân hàng kiểm soát chặt chẽ hơn khiến khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp gặp nhiều trở ngại, dù lãi suất ngân hàng đã có xu hướng giảm, tăng trưởng tín dụng chỉ khoảng 11% so với mục tiêu 12%. Tỷ giá dù được duy trì tương đối ổn định, thậm chí có phá giá danh nghĩa, nhưng thực ra đồng Việt Nam vẫn lên giá so với đồng đô la đã làm suy giảm đáng kể năng lực cạnh tranh của nền kinh tế cũng như của hàng hóa Việt Nam trên các thị trường quốc tế, thậm chí ngay chính ở thị trường trong nước.

Trong bối cảnh đó, một nhu cầu được đặt ra là cần phải có những chiến lược mới nhằm tái cơ cấu nền kinh tế, xác định lại trọng tâm phát triển dài hạn từ tạo điều kiện để doanh nghiệp phát triển và thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Một điều dễ nhận thấy là hơn đại đa số doanh nghiệp đang kinh doanh tại Việt Nam là doanh nghiệp SME, mỗi năm tạo thêm trên 500 nghìn việc làm, sử dụng 51% lực lượng lao động xã hội và đóng góp hơn 40% GDP. Tuy nhiên, đa số các SME Việt Nam chưa tham gia vào được chuỗi giá trị sản xuất toàn cầu, trình độ khoa học và năng lực đổi mới sáng tạo còn thấp. Số lượng các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khoa học công nghệ còn hạn chế. Số lượng nhà khoa học, chuyên gia làm việc trong các doanh nghiệp chỉ chiếm 0,025% trong tổng số lao động làm việc trong khu vực doanh nghiệp. Do đó các doanh nghiệp Việt Nam thường không tạo được sản phẩm có giá trị thặng dư cao, thiếu tính cạnh tranh trong bối cảnh toàn cầu hóa và ít có khả năng trở thành trụ cột của nền kinh tế như Google, Facebook của Mỹ.

Mặt khác, trong quá trình hội nhập kinh tế, trào lưu Startup cũng được đông đảo những trí thức trẻ Việt Nam đón nhận và ngày càng lan tỏa đến mọi tầng lớp trong xã hội. Với quy mô dân số gần 100 triệu người, trong đó hơn 50 triệu người dùng internet, một thị trường rộng lớn với nhu cầu rất cao… Nhận thấy đây là một trong những dấu hiệu rất tiềm năng bùng nổ startup tại Việt Nam, và như vậy thì có thể coi đây là nguồn tài nguyên vô giá để thu hút nguồn vốn đầu tư mạo hiểm trong khu vực và trên thế giới. Do đó, nhóm Đề án đã đề xuất với Bộ trưởng Bộ KH&CN vào tháng 7/2012 để thí điểm mô hình đầu tư mạo hiểm giai đoạn rất sớm đối với các nhóm Startup công nghệ. Mục tiêu của Đề án là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững thông qua việc xây dựng và hoàn thiện Hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại Việt Nam. Nghĩa là tạo môi trường thuận lợi cho thế hệ doanh nghiệp mới, giàu sức sáng tạo, có khả năng nhân rộng mô hình kinh doanh để thu hút nguồn vốn đầu tư mạo hiểm tư nhân.

Đề án Thương mại hóa công nghệ theo mô hình Thung lũng Silicon tại Việt Nam – Vietnam Silicon Valley (gọi tắt là VSV) được Bộ Khoa học và Công nghệ chính thức phê duyệt và triển khai từ ngày 04/06/2013 theo Quyết định số 1383/QĐ-BKHCN.

Nhìn lại 5 năm về trước cho thấy Đề án không chỉ thể hiện quyết tâm đưa các kết quả nghiên cứu áp dụng vào thực tiễn kinh doanh, sản xuất mà hơn hết, thể hiện tầm nhìn chiến lược của Lãnh đạo Bộ KH&CN về tiềm năng to lớn mà một hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo có thể tạo ra đối với an sinh xã hội và tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam. Với 5 năm triển khai Đề án VSV, nhóm thực hiện đã từng bước đạt được kết quả khả thi và hy vọng đã và đang đóng góp một phần thúc đẩy Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế kỳ vọng, và trong tương lai không xa trở thành một trung tâm công nghệ của khu vực và trên thế giới.

II. Hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo

Hệ sinh thái được hiểu là những tác nhân trong một môi trường cụ thể có quan hệ một cách hữu cơ với nhau nhằm giúp nhau cùng phát triển, hay nói cách khác sự phát triển của tác nhân này sẽ thúc đẩy sự phát triển của các tác nhân khác để cộng đồng ngày một phát triển rộng rãi và bền vững hơn.

Vậy hệ sinh thái dành cho Startup sẽ bao gồm các tác nhân chính nào? Nếu chia theo chức năng nhiệm vụ thì:

* Chức năng Khởi nghiệp: startup, cộng đồng khởi nghiệp,…

* Chức năng Hỗ trợ: Chính phủ, trường đại học, viện nghiên cứu, phòng thí nghiệm, các doanh nghiệp lớn, các chuyên gia và cố vấn…

* Chức năng Đầu tư: nhà đầu tư Thiên thần, Các tổ chức thúc đẩy kinh doanh Accelerator, các Quỹ đầu tư mạo hiểm và các tổ chức khác…

 Mô hình Hệ sinh thái Startup

Trong khuôn khổ bài tham luận này, chúng tôi muốn tập trung vào chức năng Đầu tư; Mặc dù, có thể nói nếu thiếu một trong các chức năng trên thì cũng không thể có hệ sinh thái khởi nghiệp, nhưng quan trọng hơn cả nếu thiếu đầu tư, đặc biệt là đầu tư mạo hiểm giai đoạn đầu thì cũng không thể có Startup hay các doanh nghiệp KH&CN phát triển.

Nói đến đầu tư trong hệ sinh thái khởi nghiệp là nói đến mối quan hệ giữa:

* Startup: Doanh nghiệp sáng tạo, có khả năng tăng trưởng đột biến.

* Accelerator: Tổ chức thúc đẩy kết hợp đầu tư vốn gieo mầm.

* Đầu tư mạo hiểm: Nhà đầu tư Thiên thần và Quỹ đầu tư mạo hiểm.

Thông qua việc thực hiện Đề án VSV trong 05 năm (2013 – 2017), cả 3 cấu phần này đã có những bước phát triển nhất định góp phần tạo ra một hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo sôi động tại Việt Nam.

Startup trở thành làn sóng phát triển mạnh mẽ, theo số liệu thống kê không chính thức, Việt Nam hiện có khoảng 15,000 startup đang hoạt động tập trung chủ yếu tại 2 trung tâm kinh tế lớn là Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh. Nhiều startup Việt đã gây tiếng vang lớn trên thị trường quốc tế như mWork, Cốc Cốc, Prime Circa, Appota, Divmob, Colorbox, DesignBold… Nhiều startup đã chiến thắng các cuộc thi khởi nghiệp quốc tế và tham gia tranh tài với các doanh nghiệp khác trên toàn thế giới như Hachi, hiSella, Younet, Umbala, Triip.me, … Tiềm năng của startup được khẳng định rõ nét qua các thương vụ đầu tư hàng triệu đô la Mỹ vào Lozi, Momo, OnOnPay…

Đầu tư mạo hiểm: Thị trường đầu tư mạo hiểm Việt Nam hiện tại không chỉ là mảnh đất của các quỹ nước ngoài như IDG Ventures Vietnam, Cyber Agent, Mekong Capital, DFJ Vina Capital mà còn có sự tham gia tích cực của các quỹ nội địa như SeedCom, FPT Ventures, CMC Innovation Fund…

Mô hình Tổ chức Thúc đẩy kinh doanh đã được chứng minh tính khả thi và mức độ hiệu quả thông qua quá trình tiên phong thử nghiệm của Vietnam Silcon Valley Accelerator. Kéo theo đó là sự ra đời của Hatch Ventures, Viettel Accelerator, Microsoft Class Expara, VIISA… Các Tổ chức Thúc đẩy kinh doanh quốc tế như Lotte Accelerator, Hebronstar cũng đã chính thức tham gia thị trường Việt Nam. Không những thế, các vườn ươm doanh nghiệp thuộc nhà nước cũng đang trong quá trình nghiên cứu để chuyển dịch mô hình sang thành Tổ chức Thúc đẩy doanh nghiệp.

Để dễ dàng tìm hiểu kỹ hơn về 3 cấu phần quan trọng này, chúng tôi sẽ cố gắng phân tích và lý giải chi tiết với mong muốn hỗ trợ thiết thực hơn cho việc phát triển hệ sinh thái Startup Việt Nam.

1. Startup hay sự giống và khác nhau giữa Startup và SME

Startup tận dụng công nghệ để tạo lợi thế cạnh tranh, theo định nghĩa Startup là một tập hợp của các nguồn lực tạm thời (nhân lực, tiền, thời gian…) để đi tìm kiếm một mô hình kinh doanh mới và nhanh chóng xây dựng thành một tổ chức/doanh nghiệp đạt quy mô, đồng thời có khả năng lặp lại hay nhân rộng tại các thị trường khác nhau; (Temporary Organization – Searching Business Model to be Profitable, Repeatable & Scalable)

Định nghĩa này đã bao hàm việc Startup có thể chưa phải là một doanh nghiệp và việc đi tìm kiếm mô hình kinh doanh MỚI đồng nghĩa với việc mỗi Startup thường không có tiền lệ. Thực tế cho thấy những Startup thành công nhất sẽ không có tấm gương nào để so sánh, đánh giá hay để ước lượng được khả năng thành công.

Startup công nghệ mang tính toàn cầu, không lệ thuộc lợi thế địa lý hay khu vực nên thị trường và khách hàng là một tập hợp lớn không giới hạn. Startup dễ dàng chấp nhận pha loãng cổ phần để gây vốn với mục tiêu nhanh chóng nhân rộng mô hình kinh doanh… do đó Startup có nhiều ưu điểm như:

* Mở ra nhiều cơ hội việc làm cho những người có tri thức cao

* Tạo nhiều lựa chọn khác nhau cho giới trẻ sau khi tốt nghiệp đại học

* Sử dụng lao động địa phương để phục vụ cho khách hàng toàn cầu do khả năng nhân rộng của mô hình kinh doanh.

Ví dụ: Một cửa hàng cafe hay Một cửa hàng quần áo sẽ khó có thể tạo được công ăn việc làm cho 60 nghìn người có tri thức cao vì các mô hình kinh doanh này không đạt được quy mô cần thiết đến số lượng lao động có trình độ cao như vậy. Nhưng Một Startup công nghệ như Google phát triển từ 20 người năm 2000 đến năm 2016 đạt quy mô 60 nghìn người đa số là kỹ sư các ngành công nghệ tiên tiến.

Trong một so sánh khác: Tổng GDP của Việt Nam năm 2015 đạt 4.193 nghìn tỷ đồng, Doanh thu của Google năm 2015 đạt 1.681 nghìn tỷ đồng tương đương 40% GDP cả Việt Nam.

Nhìn bên ngoài, có vẻ như Startup và SME không có gì khác nhau về cả quy mô lẫn hoạt động, nhưng hãy xét về bản chất sẽ thấy Startup mới chỉ bắt đầu có ý tưởng và/hoặc thử nghiệm công nghệ chứ chưa đưa ra được mô hình kinh doanh, chưa xác định được đối tượng khách hàng, chưa xác định được thị trường nên tỉ lệ thành công rất thấp (chỉ 10%). Nhưng nếu mô hình kinh doanh được minh chứng là khả thi và tiềm năng thì họ sẽ nhận được vốn đầu tư và có cơ hội bứt phá nhanh chóng hơn SME gấp nhiều lần.

SME truyền thống thường bắt đầu là một công ty gia đình sở hữu từ 70% đến 100%, không muốn mất cổ phần và quyền kiểm soát, mang tính cục bộ, địa phương và gắn liền với lợi thế về địa lý nên thị trường và khách hàng đã được xác định và hữu hạn. Do vậy khó nhân rộng (scaleable) nên SME muốn phát triển phải dựa vào vốn vay chứ không thu hút được đầu tư, đặc biệt là đầu tư mạo hiểm.

2. Đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam

A .Hiện trạng:

Thị trường Việt Nam đã ghi nhận sự tham gia của một số quỹ đầu tư vào các startup như: Cyber Agent (Nhật Bản), Golden Gate Venture (Singapore), IDG, 500 startup (Mỹ)… Nguồn vốn đầu tư cho startup của các Quỹ kể trên là tương đối lớn nhưng startup Việt Nam lại không đủ khả năng đáp ứng được các tiêu chí lựa chọn đầu tư của các quỹ này.

Nhìn lại thị trường đầu tư mạo hiểm những năm gần đây cho thấy các thương vụ đầu tư mạo hiểm không có xu hướng tăng, thậm chí giảm nhưng số lượng vốn đầu tư bình quân trên từng thương vụ lại gia tăng đáng kể. Các khoản từ vài trăm nghìn cho tới hàng triệu đô la có nhiều nhưng khoản đầu tư nhỏ ban đầu (vốn gieo mầm) thì rất ít. Đây là nguồn vốn tuy nhỏ nhưng lại rất quan trọng do mang yếu tố “kickoff” – có tính chất khởi động, thúc đẩy ban đầu cho các startup có khả năng hoàn thiện sản phẩm, kiểm tra phản ứng của thị trường và thử nghiệm các chiến lược, mô hình kinh doanh khác nhau.

Nếu chúng ta đã xác định rằng Startup là công cụ để tạo bước nhảy đột phá cho nền kinh tế cũng như có tiềm năng tạo ra siêu lợi nhuận cho nhà đầu tư. Vậy tại sao lựa chọn đầu tư cho Startup thực sự là quyết định rất khó khăn cho nhà đầu tư Việt Nam cũng như cho Chính phủ?

Giả sử có 1 tỷ đồng đầu tư trong 10 năm và cho 2 lựa chọn:

– Phương án A: có thể 90% thất bại chỉ 10% thành công nhưng tạo ra 200 tỷ đồng (lợi nhuận 200 lần). (Theo thống kê của Hiệp hội đầu tư mạo hiểm Hoa Kỳ thì đầu tư vào 10 Startup thì chỉ được 1 thành công, nhưng là một thành công đột phá).

– Phương án B: sẽ có 90% thành công và tạo ra 2 tỷ đồng (lợi nhuận 2 lần) chỉ có 10% thất bại.

Chúng ta sẽ lựa chọn phương án nào?

Đa số các nhà đầu tư sẽ lựa chọn phương án B mặc dù giá trị cơ hội của phương án A lớn hơn phương án B.

Từ trước đến nay, nhắc đến đầu tư Việt Nam là nói đến thị trường bất động sản, tài chính, tài nguyên. Những doanh nhân thành công từ những lĩnh vực này thường có cái nhìn rất khác và không nắm rõ về Startup cũng như đầu tư mạo hiểm. Vì vậy, họ sẵn sàng bỏ tiền vào lĩnh vực có thế mạnh, nơi có nhiều mối quan hệ và hiểu rõ thị trường thay vì đầu tư vào startup.

Một so sánh khác cho thấy doanh nghiệp SME tăng vốn để mở rộng kinh doanh hoặc sớm hơn là để bắt đầu kinh doanh, tiền đầu tư được phục vụ cho việc mua máy móc thiết bị hoặc mua nguyên vật liệu để sản xuất ra thành phẩm đem bán hoặc nhập luôn thành phẩm để bán lấy chênh lệch. Đặc thù của các hoạt động này là máy móc thiết bị và các món hàng được nhập về là Tài Sản và thường có giá trị được mua bán trên thị trường và trong trường hợp xấu nhất, SME đó có thể bán lại các máy móc này để lấy tiền trả lại cho nhà đầu tư hoặc ngân hàng.

Đối với Startup, nhất là Startup ở giai đoạn vốn mồi, tiền đầu tư thường được sử dụng để xây sản phẩm công nghệ. Cái khó cho nhà đầu tư trong việc cấp vốn cho Startup nằm ở tính chất sử dụng của nguồn vốn thực chất là chi trả cho chi phí nhân sự, marketing và bán hàng. Đây chính xác là chi phí và không có khả năng thu hồi nếu Startup không phát triển thành công.

Tóm lại, hầu hết các kết quả khảo sát trên thị trường đều chỉ ra rằng vấn đề lớn nhất Startup Việt Nam gặp phải là gọi vốn.

Nguyên nhân: do đây là giai đoạn rủi ro nhất trong đầu tư về khởi nghiệp, các startup vẫn đang trong giai đoạn phát triển ý tưởng và hoàn thiện sản phẩm mẫu, chưa thử nghiệm được trên thị trường. Startup ở giai đoạn này không có khả năng huy động vốn ở các kênh khác do không có tài sản đảm bảo. Bên cạnh đó, hành lang pháp lý bảo vệ nhà đầu tư mạo hiểm chưa có trong khi đầu tư mạo hiểm rủi ro lớn sẽ dễ khiến các nhà đầu tư chùn bước trong quyết định đầu tư vào Startup.

B. Các kênh huy động vốn truyền thống

Chúng ta có thể điểm lại một số kênh truyền thống mà các công ty có thể tận dụng để kêu gọi vốn:

* Người thân và gia đình: rất phù hợp cho các công ty Startup mới khởi đầu nhưng không phải gia đình nào cũng có điều kiện để tự đầu tư và mô hình đầu tư này chỉ có thể mang tính chất tự phát chứ Nhà nước không thể có phương tiện nào để xây dựng mô hình này thành một kênh đầu tư quy mô.

* Ngân hàng: khác với quỹ đầu tư mạo hiểm, đặc thù của ngân hàng là không bao giờ được mất vốn của những người gửi tiết kiệm, do đó khi ngân hàng cấp khoản vay, tiêu chí hàng đầu là khả năng đảm bảo thu hồi tiền thông qua thẩm định doanh nghiệp và đánh giá các tiêu chí như doanh thu, dòng tiền, lợi nhuận và tài sản đảm bảo… Như vậy, có thể thấy rằng Startup trong những năm đầu tiên sẽ không có cách nào để đảm bảo 2 yếu tố này. Ngoài ra, khác với quỹ đầu tư mạo hiểm cấp vốn để đổi lại cổ phần, ngân hàng cấp vốn thông qua khoản vay có lãi và Startup mới thành lập sẽ khó có thể đáp ứng được yêu cầu trả lãi vay và trả cả gốc.

* Quỹ đầu tư mạo hiểm: cặp bài trùng của Startup, tuy nhiên ngay cả quỹ đầu tư mạo hiểm cũng có các quy định trong việc quản lý vốn cũng như số tiền tối thiểu đầu tư vào mỗi công ty (thường từ 500 ngàn đô la trở lên) và các Startup Việt Nam đa phần đều không đạt quy mô cần thiết. Ngoài ra, quỹ đầu tư mạo hiểm đầu tư theo xu thế và theo hiệu quả khai thác thị trường của Startup. Điều này tạo thành vòng luẩn quẩn cho Startup: không có người dùng và/hoặc không có doanh thu dẫn đến không huy động được vốn; không huy động được vốn thì không có vốn để kinh doanh, và không có vốn kinh doanh thì lại dẫn đến không có người dùng/không có doanh thu….

* Sàn chứng khoán: là một kênh huy động vốn lý tưởng cho các doanh nghiệp, nhưng Startup ở giai đoạn rất sớm (very early stage) chưa chứng minh được sự thành công thì không thể huy động từ sàn chứng khoán. Và ngược lại các Startup đã thành công lại chưa chắc đã muốn huy động vốn từ sàn chứng khoán với các lý do sau: Mất quyền kiểm soát của doanh nghiệp; Phải công khai kết quả kinh doanh và bị theo dõi sát sao hơn bởi báo chí và truyền thông (cả tích cực và tiêu cực).

* Các quỹ của nhà nước, các tổ chức phi Chính phủ: Startup và doanh nghiệp nói chung thường ít tìm đến các quỹ này vì hoạt động đầu tư của quỹ không thường xuyên do đó họ không nằm trong danh sách kênh gọi vốn của Startup. Ngoài ra, thủ tục phức tạp và không đi sát với các hoạt động kinh doanh của Startup vì tiêu chí của quỹ thường không phải tạo ra lợi nhuận mà là bảo toàn vốn hoặc cấp vốn cho các hoạt động mang tính cộng đồng.

Mặc dù có các kênh huy động vốn như trên nhưng Startup thường chỉ có thể gọi được vốn từ Nhà đầu tư thiên thần và Quỹ đầu tư mạo hiểm; Hai nguồn vốn này khá phổ biến ở một số nước nhưng chưa thực sự phát triển ở Việt Nam vì một số lý do: Thứ nhất, nhà đầu tư cá nhân ở Việt Nam vẫn chưa nhìn nhận đầu tư Startup là một mô hình đầu tư có thể tạo ra lợi nhuận do đa số chưa biết đến mô hình này, hoặc chưa hiểu mô hình này sẽ tạo ra lợi nhuận như thế nào khi rủi ro lớn như vậy, và về cơ bản, tâm lý không ai muốn trở thành người thử nghiệm đầu tiên. Thứ hai: Các quỹ đầu tư vốn giai đoạn đầu, ngoại trừ lợi nhuận khi bán cổ phần (khoảng 7-10 năm sau khi đầu tư) thì số tiền quản lý quỹ là rất bé và thường không đủ để tạo quy mô xây dựng đội ngũ quản lý quỹ.

Đây cũng là 2 nguyên nhân chính làm cho Startup Việt Nam không có cơ hội phát triển, đồng nghĩa với việc các Quỹ đầu tư mạo hiểm cũng rất khó khăn trong việc tìm kiếm các thương vụ đầu tư tại Việt Nam. Dẫn đến Việt Nam chưa có thị trường đầu tư mạo hiểm nên các Quỹ cũng tương đối dè dặt vì không tìm thấy con đường có thể thoái vốn trong một vài năm tới.

Để giải quyết những khó khăn kể trên, và để thu hút nguồn vốn đầu tư tạo đà cho việc xây dựng thị trường vốn Đầu tư mạo hiểm, Đề án VSV đã nỗ lực thí điểm mô hình đầu tư vốn gieo mầm kết hợp huấn luyện tập trung được gọi là Tổ chức Thúc đẩy kinh doanh –  Accelerator, mô hình đã được minh chứng thành công vang dội ở Mỹ và các quốc gia tiên tiến khác như Singapore, Hàn Quốc…

3. Hệ thống tổ chức thúc đẩy kinh doanh Business Accelerators (hay còn gọi là Hệ thống BA)

Đây là hệ thống các doanh nghiệp đặc biệt, có khả năng sinh lời cao thông qua việc đầu tư vào các doanh nghiệp khởi nghiệp (start up) có ý tưởng kinh doanh tốt. Hệ thống này bao gồm các doanh nhân đã thành đạt trong việc tạo lập các doanh nghiệp, họ là những chuyên gia trong lĩnh vực tài chính, luật pháp, quản lý công nghệ, đầu tư… họ có nguyện vọng truyền đạt kinh nghiệm và cùng góp vốn đầu tư vào các doanh nghiệp startup. Hệ thống BA thực hiện 3 chức năng  chính: tạo vốn gieo mầm (seed money) cho các doanh nghiệp khởi nghiệp; truyền đạt bí quyết kinh doanh cho doanh nhân trong giai đoạn tập huấn tập trung (boot camp); tổ chức diễn đàn để doanh nghiệp khởi nghiệp có cơ hội trình bày và tiếp xúc với các nhà đầu tư (Demo Day).

Hoạt động cụ thể của BA: Sau chương trình đào tạo và xây dựng cơ sở cho việc phát triển những sản phẩm KH&CN, các doanh nghiệp “hạt giống” sẽ được tham gia vào Business Accelerators (BA) để hỗ trợ họ hoàn thiện sản phẩm, mô hình kinh doanh và chiến lược kinh doanh trong tương lai, nhằm thu hút sự đầu tư của các nhà đầu tư mạo hiểm. Trong giai đoạn này, các doanh nghiệp được sự hướng dẫn của các chuyên gia có nhiều kinh nghiệm trong việc đầu tư mạo hiểm, các doanh nhân đã thành đạt trong lĩnh vực xây dựng doanh nghiệp công nghệ và chuyên gia trong các lĩnh vực quản lý công nghệ, quản lý tài chính và chiến lược phát triển sản phẩm.

Đồng thời, trong giai đoạn là thành viên của BA và sau khi tốt nghiệp, các doanh nghiệp “hạt giống” sẽ được gặp gỡ các nhà đầu tư mạo hiểm để những nhà đầu tư này có cơ hội kiểm tra và nghiên cứu về tiềm năng cũng như độ khả thi của các doanh nghiệp “hạt giống”. Nếu các nhà đầu tư đánh giá một doanh nghiệp “hạt giống” có giá trị, đáng đầu tư, họ sẽ bỏ vốn đầu tư cho doanh nghiệp đó. Với số vốn đầu tư từ các nhà đầu tư mạo hiểm, các doanh nghiệp “hạt giống” sẽ có kinh phí để thực hiện mô hình kinh doanh và chiến lược kinh doanh của họ để trở thành một Startup.

Với chức năng nêu trên, hệ thống BA sẽ định hướng được thị trường công nghệ giúp cho các nhà đầu tư lựa chọn đối tượng đầu tư hiệu quả, và cũng thông qua hệ thống BA mà phát triển được các quỹ đầu tư mạo hiểm cho các doanh nghiệp khoa học & công nghệ. Hay nói cách khác Hệ thống BA như một phin lọc các doanh nhân có ý tưởng đầu tư tốt và ươm tạo thành các doanh nghiệp khởi nghiệp có hiệu quả để các Quỹ đầu tư thông qua đó mà tài trợ vốn.

Tổ chức Thúc đẩy kinh doanh làm việc với startup trong một khoảng thời gian ngắn và cụ thể, thường là từ 3 đến đến 4 tháng. Tổ chức Thúc đẩy kinh doanh cũng cung cấp khởi động một số vốn gieo mầm, thường là khoảng 10.000 – 20.000 đô la Mỹ (tương đương 300 triệu đến 500 triệu đồng). Để đổi lấy vốn và sự hướng dẫn, startup trả từ 3% đến 10% cổ phần của công ty cho Tổ chức Thúc đẩy kinh doanh.

Tổ chức Thúc đẩy kinh doanh không phải là một con đường đảm bảo chắc chắn sự thành công cho startup, nhưng nó giúp startup đạt đến một điểm mà công ty đã sẵn sàng để tăng vốn. Mục đích của Tổ chức Thúc đẩy kinh doanh là tăng quy mô (repeatable) và giá trị (scalable) của một công ty càng nhanh càng tốt để chuẩn bị cho một vòng gọi vốn đầu tiên (Demo Day). Điều này đồng nghĩa với việc tăng giá trị số cổ phần mà doanh nghiệp đã trả cho Tổ chức Thúc đẩy kinh doanh.

Từ những nhận định ở trên, Đề án Thương mại hóa công nghệ theo mô hình Thung lũng Silicon tại Việt Nam được phê duyệt với mục tiêu và phạm vi hoạt động rất cụ thể.

A.Mục tiêu:

* Tạo dựng thành công các doanh nghiệp khởi nghiệp, hội tụ đủ các yếu tố: (i) đã có sản phẩm; (ii) sản phẩm có tiềm năng chiếm được một thị trường lớn; (iii) Doanh nghiệp có mô hình kinh doanh, chiến lược kinh doanh và đội ngũ quản lý có khả năng áp dụng và thực hiện các chiến lược theo từng giai đoạn nhằm đạt mục tiêu về lợi nhuận, khống chế thị trường và tăng trưởng nhanh.

* Tạo môi trường để thu hút những nhà đầu tư vốn mạo hiểm sẵn sàng đầu tư vào những doanh nghiệp KH&CN khởi nghiệp đáp ứng đủ điều kiện.

* Xây dựng hệ thống tổ chức thúc đẩy doanh nghiệp (Business Accelerators) để tạo môi trường ươm tạo các doanh nghiệp khởi nghiệp.

B. Phạm vi hoạt động

Triển khai chương trình đào tạo nhằm giúp cho các doanh nghiệp có thể nâng cấp sản phẩm và hướng tới thị trường.

Xây dựng hệ thống tổ chức thúc đẩy doanh nghiệp (Hệ thống BA) để thực hiện đầu tư vào các doanh nghiệp khởi nghiệp (startup) có ý tưởng kinh doanh tốt.

Xây dựng mô hình và quy chế hoạt động của hệ thống Quỹ đầu tư mạo hiểm tư nhân kết hợp với nguồn vốn đầu tư của nhà nước.

Nhận thức được vai trò quan trọng của hệ thống BA nên việc thực hiện nhiệm vụ này được coi là xương sống của toàn bộ Đề án và là mấu chốt sự thành công của Vietnam Silicon Valley.

4. Bài học kinh nghiệm từ Chính phủ các nước

Trong tất cả các quốc gia có hệ sinh thái Startup đặc biệt phát triển như Mỹ, Singapore, Hàn Quốc, Anh, Ấn Độ… đều có sự tham gia của Chính phủ và không chỉ với vai trò chính sách mà dưới vai trò nhà đầu tư cho Quỹ.

Ở Mỹ chúng ta có thể nhìn vào ví dụ của 2 quỹ Huron River Ventures, Michigan Accelerator Fund, 2 quỹ này khi mới thành lập được Chính phủ đầu tư 25% tổng số vốn của quỹ và quỹ của chính phủ chấp nhận giới hạn lợi nhuận của mình ở mức 1,5 lần (điều này đồng nghĩa nếu quỹ tạo ra lợi nhuận hơn 1,5x tất cả các nhà đầu tư sẽ được lãi nhiều hơn phần mình đóng góp) giúp quỹ nhanh chóng được thành lập và đi vào hoạt động.

Singapore xây dựng hệ sinh thái cho Startup dựa vào vốn đầu tư của Chính phủ. Chính phủ Singapore đầu tư đối ứng lên tới 3 triệu USD cho mỗi quỹ được thành lập. Tất cả các quỹ tên tuổi tại đây đều có sự tham gia vốn của chính phủ như: JFDI, IMJ fund… Chính sự tập hợp của các nhà đầu tư và luật doanh nghiệp về đầu tư tương đồng với các nền kinh tế như Mỹ và Anh đã kéo các Startup trong khu vực tập trung về nước này. Singapore mặc dù không có thị trường để Startup khai thác nhưng lại là quốc gia có nhiều Startup lớn nhất trong khu vực.

Tổng thống Ấn Độ vừa công bố khoản đầu tư 4 tỷ đô la cho hệ sinh thái Startup từ tháng 1 năm 2016.

Hàn Quốc sẽ đầu tư 2,91 tỷ USD để phát triển Startup, trong đó phần lớn số tiền này sẽ được sử dụng để đầu tư vào các Startup thông qua các quỹ đầu tư mạo hiểm tư nhân ở các giai đoạn khác nhau, đồng thời là việc rỡ bỏ một số các loại thuế từ bán cổ phần công ty cũng như cho phép nhà đầu tư miễn giảm thuế với điều kiện họ tái đầu tư khoản lãi từ bán cổ phần của mình. Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng, Hàn Quốc đang chuẩn bị cho các Startup của mình một cơ chế dễ dàng huy động vốn ở mọi giai đoạn: Giai đoạn vốn mồi và trước sàn KONEX: Startup Hàn Quốc có thể huy động vốn từ các quỹ đầu tư mạo hiểm được đồng đầu tư bởi Chính phủ. Các giai đoạn sau, Startup có thể lần lượt huy động vốn ở sàn KONEX, KOSDAQ và KOSPI. Ngoài ra, các cơ chế đồng đầu tư của Chính phủ cũng như miễn giảm thuế thu từ bán cổ phần cũng góp phần thúc đẩy các doanh nghiệp thường xuyên thực hiện mua bán sáp nhập hơn, qua đó tạo thanh khoản cho các nhà đầu tư thiên thần và quỹ đầu tư mạo hiểm.

III. Kết luận và đề xuất chính sách

Kết luận:

Đặc thù của mô hình đầu tư mạo hiểm là đầu tư vào con người, những con người dám làm dám chịu, dám thay đổi, chấp nhận thử nghiệm cái mới, chấp nhận thất bại để đạt được thành công đột phá. Như trên đã phân tích, việc đầu tư vào con người và các hoạt động của nhóm người đó nhằm khảo sát đánh giá thị trường, thử nghiệm sản phẩm và có thể cả công nghệ mới… Thực chất đây là khoản chi phí mà chưa chắc đã đem lại được doanh thu hay lợi nhuận. Tại Mỹ đã tổng kết việc đầu tư mạo hiểm chỉ có thể thành công được 10%, như vậy việc mất đi 90% gần như tất yếu. Do đó, việc kêu gọi tư nhân tự đầu tư vào Startup là vô cùng khó khăn, bởi chúng ta chưa quen với việc chấp nhận thất bại. Hay nói chính xác Việt Nam chưa có văn hóa đầu tư mạo hiểm.

Để thử nghiệm mô hình về Đầu tư mạo hiểm, nhóm chuyên gia VSV đã liên tục, tuyển chọn và đầu tư vốn gieo mầm, đến nay đã đầu tư 50 nhóm, 30 trong số đó đang hoạt động tốt và 16 nhóm đã gọi được vốn vòng tiếp theo. Từ những thành công ban đầu, VSV đã trở thành địa điểm của cộng đồng đầu tư quốc tế, các tổ chức phi chính chủ của các nước có hệ thống đầu tư mạo hiểm phát triển. VSV là nơi cung cấp thông tin chi tiết về tình hình của hệ sinh thái khởi nghiệp Việt Nam từ lộ trình làm chính sách của nhà nước, cho đến sự phát triển của cộng đồng khởi nghiệp tại Việt Nam, mạng lưới các nhà đầu tư thiên thần, các quỹ đầu tư mạo hiểm đang hoạt động tại Việt Nam. VSV đã trở thành cầu nối giữa các nhà đầu tư, quỹ đầu tư nước ngoài và các Startup Việt. Qua mạng lưới này, VSV có cơ hội tìm kiếm các chuyên gia quốc tế giàu kinh nghiệm tham gia hỗ trợ huấn luyện Startup đồng thời đầu tư gieo mầm cho các startup mà họ huấn luyện.

Việt Nam với lợi thế 100 triệu dân và GDP đang tăng trưởng nhanh hàng năm, do đó chúng ta sẽ rất nhanh chóng trở thành thị trường có sức tiêu dùng lớn để các doanh nghiệp nhắm tới, vấn đề nằm ở chỗ chúng ta cần có phương pháp hiệu quả để giữ lại các khoản thu thuế cũng như giữ được các tài sản lớn là các Startup tỷ đô.

Đề xuất chính sách

Từ những phân tích trên, chúng ta nhận thấy hiện trạng của Việt Nam đang thiếu nhà đầu tư ở giai đoạn vốn gieo mầm từ 10 nghìn đến 500 nghìn đô la trong khi gần như toàn bộ Startup ở Việt Nam đều nằm ở giai đoạn này. Các Startup đã phát triển vượt qua ngưỡng nửa triệu đô la có thể dễ dàng hơn trong việc gọi vốn từ các Quỹ đầu tư mạo hiểm nước ngoài.

Do đó, để hỗ trợ phát triển Hệ sinh thái Startup nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư tư nhân tiến tới hình thành thị trường vốn đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam, chúng tôi đề xuất một số chính sách như sau:

1. Nhân rộng mô hình Tổ chức Thúc đẩy kinh doanh như Vietnam Silicon Valley Accelertor (VSVA)

Nhân rộng mô hình của VSV Accelerator tại các tỉnh thành phố lớn để thu hút nguồn lực khởi nghiệp được đầu tư và đào tạo bài bản để trở thành một Startup có khả năng thu hút, kêu gọi vốn đầu tư từ các tổ chức, quỹ, nhà đầu tư thiên thần. Hỗ trợ kinh phí cho các chương trình đào tạo nhà đầu tư, quản lý vườn ươm và cố vấn, cụ thể như chương trình VSV Investor Bootcamp, chuyển giao quy trình quản lý, vận hành BA cho các đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp có nhu cầu xây dựng BA cho mục đích phát triển hoạt động kinh doanh và đầu tư Startup.

2. Chính sách vốn đối ứng

Nếu Việt Nam muốn tập trung phát triển Startup để làm đòn bẩy kinh tế, Chính phủ cần tham gia đầu tư trực tiếp để kích thích tăng trưởng về số lượng và chất lượng Startup, đặc biệt là giai đoạn đầu. Đồng thời qua đó thu hút khối tư nhân cùng đầu tư Startup. Việc làm này sẽ thu hút không chỉ Startup và nhà đầu tư tư nhân ở Việt Nam mà còn trong khu vực và trên thế giới. Khi bắt đầu tham gia đầu tư trong thị trường Startup, các quỹ Chính phủ cần lưu ý những điểm sau để lựa chọn quỹ đồng đầu tư:

* Những người quản lý quỹ có bỏ tiền cá nhân đầu tư vào quỹ hay không? (nhà đầu tư khi đầu tư vào quỹ quan tâm tới vấn đề này để đánh giá sự quyết tâm của những người quản lý quỹ)

* Đội ngũ quản lý quỹ đã đầu tư bao nhiêu công ty?

* Các công ty/tổ chức lớn thành lập quỹ (đây là dấu hiệu tích cực cho hệ sinh thái Startup, tuy nhiên, trừ trường hợp công ty bỏ số vốn đầu tư rất lớn nếu không quy mô của quỹ sẽ không bằng các mảng kinh doanh khác của doanh nghiệp và sẽ không được tập trung các nguồn lực tốt nhất).

Để có thể mở rộng mạng lưới nhà đầu tư tư nhân, ngoài việc tổ chức tuyên truyền, hướng dẫn các kỹ năng đầu tư, Chính phủ nên có những gói tài chính dành riêng cho việc đầu tư mạo hiểm kết hợp với một số BA và để BA quản lý phần vốn này. Chính phủ đóng vai trò tài trợ vốn, không nên cử người tham gia vào Hội đồng quản trị của từng công ty khởi nghiệp, bởi việc quản lý này sẽ không phải là sở trường của những người làm chính sách. Tư nhân cùng bỏ vốn đầu tư họ có quyền lợi sẽ lo bảo toàn và phát triển nguồn vốn của họ, họ vừa có kinh nghiệm hơn lại có đội ngũ quản lý, thẩm định đầu tư chuyên nghiệp hơn, họ biết khi nào là thời điểm nên đầu tư và thời điểm nào nên thoái vốn để thu lời.

Tỷ lệ vốn đối ứng cho giai đoạn gieo mầm nên là 50:50, như vậy sẽ khuyến khích các BA huy động được ngày càng nhiều nguồn vốn từ các nhà đầu tư Thiên thần.

3. Chính sách Thuế

Để khuyến khích các nhà đầu tư Thiên thần tham gia vào thị trường đầy rủi ro này, một số nước phát triển như Anh, Pháp, Mỹ, Bồ Đào Nha… đã có những chính sách thuế, ví dụ tại Anh, Chính phủ khuyến khích bằng cách:

* Giảm 30% đến 50% thuế nếu đầu tư vào giai đoạn gieo mầm cho Statup

* Không tính thuế trên lãi thu được của những khoản đầu tư Thiên thần kéo dài trên 3 năm

* Khoản lỗ từ đầu tư Thiên thần có thể được bù đắp từ các khoản thuế

4. Thành lập Hiệp hội đầu tư mạo hiểm

Hiệp hội đầu tư mạo hiểm là nơi giao lưu và kết nối các nhà đầu tư, các tổ chức đầu tư đang trực tiếp tham gia vào thị trường này. Để giảm thiểu rủi ro cho việc đầu tư, Hiệp hội thường xuyên đưa ra các khuyến cáo cho nhà đầu tư về các công nghệ hiện có, dự báo những phát triển của công nghệ trong tương lai. Biên soạn những biểu mẫu pháp lý như Bản điều khoản, Hợp đồng đầu tư, Cam kết góp vốn… nhằm giúp giản tiện hoá việc đầu tư cho những cá nhân.

Đồng thời, Hiệp hội cũng góp tiếng nói để Chính phủ và những nhà lập pháp đưa ra những chính sách đáp ứng nhu cầu thực tiễn hơn.

Hiệp hội còn là cầu nối giữa những nhà đầu tư tư nhân với các tổ chức đầu tư mạo hiểm, giúp cho việc lựa chọn đơn vị quản lý danh mục đầu tư được chuẩn xác hơn.

5. Các hoạt động vinh danh nhà đầu tư Thiên thần

Nhà đầu tư Thiên thần cũng cần được vinh danh trong lĩnh vực đầu tư mạo hiểm, bởi chính họ là những người tiên phong sát cánh cùng với Chính phủ dám bỏ tiền của và công sức của mình để đầu tư vào lớp trẻ. Việc làm của cộng đồng nhà đầu tư Thiên thần này đang hàng ngày hàng giờ lặng lẽ giúp cho ra đời biết bao các công ty khởi nghiệp. Không chỉ giúp hiện thực hoá những ước mơ của biết bao bạn trẻ mà còn góp phần giải quyết một số lượng lớn việc làm cũng như đóng góp cho việc tăng trưởng nền kinh tế.

Mặc dù họ không đòi hỏi, nhưng nếu Chính phủ có những hoạt động như công nhận họ là nhà đầu tư Thiên thần, ghi nhận công sức đóng góp của họ cho cộng đồng thì việc sẽ lan toả nhanh chóng và cũng chính họ sẽ là cầu nối giúp mở rộng mạng lưới nhà đầu tư Thiên thần này.

Thạc sỹ Quản trị Kinh doanh
Chủ nhiệm đề án Thung lũng Silicon Việt Nam

There are no comments yet

Tin khác đã đăng